Tính trợ cấp thất nghiệp
Tác giả: Henrick YauMáy tính
Tính mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp. Mức hưởng mỗi tháng bằng 60% bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất, và không vượt quá 5 lần lương tối thiểu vùng.
Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 đến đủ 36 tháng cho 3 tháng hưởng; cứ đóng thêm đủ 12 tháng được thêm 1 tháng, tối đa 12 tháng. Hồ sơ nộp tại trung tâm dịch vụ việc làm. Mức áp dụng cho năm 2026.
Tiền lương và thời gian đóng
Mức hưởng theo Luật Việc làm 2025 (có thể sửa)
Trợ cấp thất nghiệp được bao nhiêu và trong bao lâu
Trợ cấp thất nghiệp có hai con số phải tính riêng: mức hưởng mỗi tháng, và số tháng được hưởng. Mức hưởng bằng 60% bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng, nhưng không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng.
Số tháng hưởng thì không liên quan gì tới tiền lương, chỉ liên quan tới thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp. Đóng từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng được hưởng 3 tháng; sau đó cứ đóng đủ thêm 12 tháng lại được thêm 1 tháng, và tổng thời gian hưởng không quá 12 tháng. Mức áp dụng cho năm 2026. Hồ sơ nộp tại trung tâm dịch vụ việc làm nơi bạn muốn hưởng.
Các bước tính
- Lấy bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất.
- Nhân với 60% để ra mức hưởng theo tỷ lệ.
- Xác định vùng của nơi làm việc cuối cùng và lấy 5 lần mức lương tối thiểu vùng đó làm trần.
- Lấy số nhỏ hơn giữa hai con số trên — đó là mức hưởng mỗi tháng.
- Đếm tổng số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và quy ra số tháng hưởng.
- Phần thời gian đóng chưa dùng đến được bảo lưu cho lần hưởng sau.
Lương tối thiểu vùng của năm 2026: vùng I là 5.310.000 đ mỗi tháng, vùng II 4.730.000 đ, vùng III 4.140.000 đ và vùng IV 3.700.000 đ. Nhân 5 lần thì mức hưởng tối đa lần lượt là 26.550.000 đ, 23.650.000 đ, 20.700.000 đ và 18.500.000 đ mỗi tháng.
Chỗ gây tranh cãi nhất: trần theo vùng nào
Trần tính theo vùng của nơi làm việc cuối cùng, không phải nơi bạn cư trú và cũng không phải nơi bạn nộp hồ sơ. Người làm ở khu công nghiệp thuộc vùng I rồi về quê thuộc vùng III để nộp hồ sơ vẫn hưởng theo trần của vùng I. Đây là nguồn hiểu nhầm phổ biến nhất khi người lao động so mức hưởng với nhau.
Điểm thứ hai là chuyện bảo lưu. Thời gian đóng dư ra không mất đi. Người đóng 47 tháng chỉ được 3 tháng hưởng vì chưa đủ mốc 12 tháng tiếp theo, nhưng 11 tháng dư đó được cộng vào lần hưởng sau. Người đóng rất dài cũng chỉ được 12 tháng, phần vượt vẫn nằm đó chờ lần sau. Vì vậy nộp hồ sơ ngay khi vừa qua một mốc tròn là quyết định đáng cân nhắc.
Cần nhớ rằng trần này áp cho người làm việc theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định. Người hưởng lương theo chế độ do Nhà nước quy định có trần riêng tính trên mức tham chiếu.
Vì sao con số của bạn có thể khác
Bình quân tiền lương lấy theo tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp, không phải lương thực nhận và cũng không phải tổng thu nhập. Nếu doanh nghiệp đóng bảo hiểm trên một mức thấp hơn lương gross thì trợ cấp cũng thấp theo, dù bảng lương của bạn nhìn rất khác.
Sáu tháng cuối cùng phải là sáu tháng có đóng bảo hiểm thất nghiệp, không nhất thiết liền kề theo lịch — những tháng nghỉ không lương hoặc nghỉ thai sản không đóng sẽ bị bỏ qua và lùi về các tháng có đóng trước đó. Ngoài ra, nghỉ việc không đúng quy định, đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật, hoặc đã hưởng lương hưu đều làm mất quyền hưởng, bất kể thời gian đóng dài bao nhiêu.
Câu hỏi thường gặp
Đóng chưa đủ một năm thì có được hưởng không? Không. Phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trong khoảng thời gian luật định trước khi chấm dứt hợp đồng. Thời gian đóng ngắn hơn được bảo lưu toàn bộ cho lần sau chứ không mất.
Tôi tự xin nghỉ việc có được hưởng không? Được, nếu việc chấm dứt hợp đồng đúng quy định của pháp luật lao động, chẳng hạn có báo trước đủ thời hạn hoặc thuộc trường hợp được nghỉ ngay. Đơn phương nghỉ trái luật thì không được hưởng.
Đang hưởng mà tìm được việc mới thì sao? Bạn phải thông báo và sẽ bị chấm dứt hưởng. Thời gian đóng tương ứng với số tháng chưa nhận được bảo lưu, nên khoản đó không mất đi mà cộng vào lần hưởng tiếp theo.
Vì sao mức của tôi thấp hơn đồng nghiệp cùng lương? Thường vì hai người ở hai vùng khác nhau nên trần khác nhau, hoặc vì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của hai người khác nhau dù lương thực nhận bằng nhau.
Máy tính Tài chính
- Máy Tính PPF
- Máy Tính Tập Hợp Nợ
- Máy Tính Quỹ Khẩn Cấp
- Máy Tính Sức Mua
- Máy Tính Thẻ Tín Dụng
- Máy Tính Tỷ Lệ Sử Dụng Tín Dụng
- Máy tính trả nợ thẻ tín dụng
- Máy Tính Thu Nhập Ròng
- Máy Tính Lãi Suất Thẻ Tín Dụng
- Máy Tính Khoản Vay Cá Nhân
- Máy Tính Phí Tài Chính
- Máy Tính Chuyển Nhượng Cân Bằng
- Máy Tính Giá Trị Tài Sản Ròng
- Máy Tính Thanh Toán Tối Thiểu Thẻ Tín Dụng
- Máy Tính Giá Trị Hiện Tại Của Niên Kim
- Máy Tính Cơ Sở Chi Phí
- Máy Tính Lợi Nhuận Gộp
- Máy Tính Mục Tiêu Tiết Kiệm
- Máy tính Lương Gộp
- Máy Tính Thanh Toán Nợ
- Máy tính thanh toán thẻ tín dụng
- Máy tính Dòng tiền
- Máy Tính Thanh Toán Vay
- Máy tính PTO
- Máy Tính Ngân Sách
- Máy Tính Bảo Hiểm Nhân Thọ Trọn Đời
- Máy Tính Cho Thuê
- Máy Tính Lương
- Máy tính TVM
- Máy Tính Tăng Lương
- Máy tính Peso sang Đô la
- Máy Tính Rút Tiền Tiết Kiệm
- Máy Tính Khoản Vay Sinh Viên
- Máy Tính Ngày Đáo Hạn Hóa Đơn
- Máy Tính Nợ Tuyết
- Máy Tính Lãi Suất Tiết Kiệm
- Máy Tính Tiết Kiệm Đơn Giản
- Máy tính Lợi nhuận Ròng
- Máy tính PPP
- Máy Tính Khoản Vay Ngày Lương
- Máy Tính Thu Nhập Hàng Năm
- Máy Tính Nợ
- Máy tính Hợp đồng Tương lai
- Máy tính Khấu hao Đường thẳng
- Máy Tính Thanh Toán Khoản Vay Sinh Viên
- Máy tính Giờ Làm Việc Tính Phí
- Máy tính WACC
- Máy Tính Trả Nợ
- Máy tính Long Call
- Máy Tính Khoản Vay Thuyền
- Máy tính Giá trị Thị trường Hợp lý
- Công cụ so sánh thẻ tín dụng UnionPay
- Máy Tính Thuế Tiền Thưởng
- Máy tính thuế thu nhập từ vốn
- Máy Tính Tiền Lương
- Máy tính Chi phí Nhân viên
- Tính lương net
- Tính thuế thu nhập cá nhân